Cảm xạ học không phải là phù thủy, không huyền bí

Cảm xạ học không phải là phù thủy, không huyền bí

Vào thế kỷ 15 trước Công nguyên, Herodotus đã mô tả cách dò tìm từ xa mạch nước ngầm bằng đũa chữ Y làm từ cây liễu của những người thổ dân xứ Scythian.

Cảm xạ học không phải là phù thủy, không huyền bí

Cảm xạ học không phải là phù thủy, không huyền bí

Cảm xạ học không phải là phù thủy, không huyền bí như người ta tưởng mà mọi người đều có thể luyện tập và trở thành nhà cảm xạ.

Trên thế giới, bộ môn “cảm xạ học” không xa lạ với người dân bản địa các nước như : Ba Lan, Mỹ, Pháp, Đức, Anh v.v.v…. Nhưng ở Việt nam, danh từ “Cảm xạ học” hiện nay chưa có trong danh mục của các ban ngành quản lý nhà nước. Chính vì vậy, nhiều người đã lợi dụng “Cảm xạ học” để đánh bóng mình vào nhiều mục đích khác nhau, gây ảnh lớn trong lối sống người luyện tập cảm xạ và nhiễu loạn xã hội. Ở Ba Lan, Viện nghiên cứu cảm xạ học đã được hình thành từ 70 năm về trước. Muốn trở thành chuyên gia cảm xạ học, người đó phải học và thi cử đầy đủ. Phải có giấy phép hành nghề cảm xạ do các giáo sư cảm xạ cấp và tòa án nhà nước chứng thực. Trong bài viết này, Viện B.V.I.&R.I.A.F.R muốn đem đến cho bạn đọc, những người yêu thích cảm xạ hiểu rõ hơn lịch sử và phát triển của ngành cảm xạ học.

I. Lịch sử hình thành và phát triển ngành cảm xạ học.

Định nghĩa “cảm xạ học” trong danh tính học Việt nam :

– Cảm: có nghĩa là cảm nhận, cảm giác, nhận biết.

– Xạ: là những tia xạ, bức xạ, những năng lượng có trong vũ trụ, trong cuộc sống và trong lòng đất mắt thường không thể nhìn thấy được.

Con người đã nhận biết được những tia năng lượng trong vũ trụ và môi trường sống từ trên 6.000 năm trước. Trong Kinh: “Verda” đã nhắc đến tia “Prana” có trong vũ trụ và cho rằng cơ thể con người rất cần tia “Prana” này và xem nó như là thành phần cơ bản nguồn gốc của sự sống. Tại sao con người của các thiên niên kỷ trước đây lại biết được những tia đó. Các nhà khảo cổ học và sử học ngày nay đã tìm thấy nhiều dụng cụ cảm xạ cổ đại được làm bằng đá nằm dưới đáy biển Atlantic như: các con lắc, đũ chữ Y bằng chất liệu gỗ. Những bức tranh tiêu biểu được khắc trên đá tìm thấy tại Libia đã mô tả: “Một nhóm người đang dò tìm mạch nước ngầm bằng đũa chữ Y trong những hang động Tassini-n-Ajjer ở đông nam Libia. Các nhà khoa học ước tính bức tranh này có khoảng 8.000 năm trước.

Vào thế kỷ 15 trước Công nguyên, Herodotus đã mô tả cách dò tìm từ xa mạch nước ngầm bằng đũa chữ Y làm từ cây liễu của những người thổ dân xứ Scythian. Theo truyền thuyết, những nhà cảm xạ luôn có mặt trong đám tùy tùng của nữ hoàng Sheba đi gặp Vua Sanamon trong những chuyến du hành tìm nước và vàng. Trong cuốn sách “Book of Numbers” (sách về thuật số) ở chương 20, trang 8 – 11 kể rằng: Moses đã hai lần dùng đũa gõ lên một khối đá và từ khối đá đó đã tuôn ra một lượng nước đủ dùng cho thần dân của Moses và súc vật của họ. Thời đó, đũa này có thuật ngữ là “Rods” và chỉ được thừa nhận trong kinh thánh khi chúng được dùng cho Vua Chúa. Nó được chuyền lại cho tới ngày nay là do các giáo sỹ trong giáo hội. Nhà thờ Thiên Chúa Giáo không chấp nhận hình thức nào của bói toán. Vì vậy việc dò tìm mạch nước ngầm được coi là quỷ dữ và sẽ bị sử tử hình hoặc cho vào vạc dầu. Martin Nuthrer cũng coi việc Cảm xạ từ xa cũng coi là tội lỗi, thậm chí Ông còn liệt nó vào danh sách phá vỡ lời dăn dậy đầu tiên trong số 10 lời dăn của Đức Chúa Trời. Vào thế kỷ 16, đũa chữ Y đã được thường xuyên ứng dụng trong việc tìm kiếm các mỏ ở Đức. Năm 1546 Georgius Agricola đã cho xuất bản cuốn sách “De Re Metallica” (Về các kim loại) đề cập đến việc khai thác mỏ. Trong cuốn sách này, ông giải thích cặn kẽ về sự cần thiết của việc sử dụng đũa chữ Y trong việc tìm kiếm khai thác mỏ. Cuốn sách này bao hàm phạm vi kiến thức rất rộng lớn về cảm xạ học và đã trở thành kim chỉ nam cho ngành khai thác mỏ trong suốt một thập kỷ sau đó. Qua đó, ta có thể thấy được tầm quan trọng của cuốn sách.

Sinh ra vào cuối thế kỷ thứ 16 Martine de Berttreau là nhà cảm xạ nổi tiếng đầu tiên. Cô kết hôn với một chuyên gia chuyên khai thác mỏ, nam tước Beausoneil et d’Auffenbach. Niềm say mê của cô trong lĩnh vực này là do ảnh hưởng từ chồng và cô đã trở thành chuyên gia, không chỉ trong lĩnh vực khoáng sản mà cả tìm những mạch nước ngầm. Việc cô khám phá ra mỏ Chateau- Thiery vào mùa xuân năm 1627 là một trong số rất nhiều thành công to lớn đã giúp cô trở thành nhà tư vấn về xác định các mỏ khoáng sản cho chính phủ Pháp. Tuy nhiên, thật không may niềm say mê về dò tìm các quặng mỏ của cô bị quy kết là các trò phù thủy. Cô và chồng đã bị bắt giam năm 1629.
Cho tới thế kỷ thứ 19, nhà cảm xạ John Munins sinh năm 1838 đã phát hiện ra khả năng đặc biệt của mình hết sức tình cờ khi ông giúp dòng họ Ashwick xây dựng nhà ở vùng Gnoucestershire. Trong quá trình xây dựng, ông tìm được vị trí có nước theo một đường thẳng. Đấy là tiền đề của cảm xạ học đánh dấu sự phát triển dò tìm ra hướng đi của mạch nước ngầm. Để kiếm chứng, chủ khu nhà đó đã cho đào các giếng ở tất cả các vị trí theo đường đã vạch trên mặt đất, tất cả các giếng đều có nước. Tại sao chỉ bằng một đũa chữ Y mà ông đã xác định được dòng nước của các mạch nước ngầm như vậy, đó là điều không thể tưởng tượng được trong kỷ nguyên khoa học của thời kỳ đó. Cho tới thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19, nhà vật lý học người Pháp tên là Antoine Bovis đã tìm ra công thức đo năng lượng sinh học của đất khi tiến hành khảo sát kim tự tháp Ai Cập trong những năm 1930. Sau này nhân loại ghi nhớ công ơn của Ông đã lấy tên chỉ số đo năng lượng của đất và của người theo đơn vị tính là Bovis. Chỉ số Bovis dùng để đo: sức khỏe, sức sống tự nhiên của vật thể hữu cơ, đo năng lượng tự nhiên, sóng dao động của quả đất. Năng lượng này được gọi là “Biophoton” tức là phân tử ánh sáng mắt thường không nhìn thấy được. Thứ năng lượng này rất cần thiết để duy trì sự sống trên trái đất. Đây là sự cân đo năng lượng bằng trực giác của những nhà cảm xạ học, của những người có công năng bẩm sinh hoặc ở những người chịu khó rèn luyện công phu. Muốn đo được chính xác các năng lượng bằng phương pháp trực giác (Intuntion) người đó phải ở trạng thái vô thức hoàn toàn, dồn toàn bộ tâm thức để thực hành cảm nhận tất cả những năng lượng tinh túy. Ngày nay khoa học kỹ thuật thế giới phát triển vượt bậc, các nước tiên tiến như Mỹ, Đức đã chế tạo thành công máy đo năng lượng sinh học của đất, đá, cây cỏ, động vật và của người. Khi máy hiển thị chỉ số năng lương sinh học Bovis càng cao, người sống trên đất đó sẽ có sức khỏe tốt, an lành và giàu có. Một khu đất trung bình sẽ có chỉ số năng lượng địa sinh học là 9.000 Bovis. Cảm xạ học đã được ứng dụng rộng rãi để chọn đất xây dựng lâu đài, thành quách, cung điện…Những mảnh đất được các nhà cảm xạ học “chọn lựa” để xây dựng các công trình kiến trúc lớn như: cung điện, nhà thờ, lâu đài, lăng tẩm đều có chỉ số năng lượng địa sinh học rất cao: 17.000 – 19.000 Bovis.

Năng lượng sinh học của một người có sức khỏe bình thường là 190.000 Bovis. Ở những người có công năng đặc biệt hoặc tu luyện công phu sẽ có năng lượng sinh học bản thể rất cao (có thể lên tới con số triệu hoặc nhiều hơn nữa).
a/ Sau đây là những chỉ số Bovis được tổng kết của các chuyên gia cảm xạ học thế giới dùng để đo năng lượng sinh học của đất như sau:
– Từ 0 – 3.000 đơn vị Bovis: đất gây bệnh ung thư, bệnh nặng.
– Từ 3.000 – 5.000 đơn vị Bovis: con người sống trên đất đó luôn có sức khỏe yếu, thường có bệnh kinh niên như: đau đầu, mất ngủ, nghẹo cổ, sưng nhức các khớp ….
– Từ 5.000 – 7.500 đơn vị Bovis: con người sống ở đó sẽ mắc bệnh: đường ruột, dạ dầy, lạnh chân tay, viêm phổi, ho và hen xuyễn.
– Từ 7.500 – 8.500 đơn vị Bovis: người sống ở đó sẽ có cảm giác mệt mỏi và bứt dứt trong người.
-Đất có chỉ số năng lượng 9.000 năng lượng Bovis: là khu đất có năng lượng sinh học trung bình, không gây ảnh hưởng tai họa cho những người sống ở trên đất đó.
– Đất có năng lượng Bovis từ 9.000 – 12.000: là khá tốt, có tài lộc.
– Đất có năng lượng từ 12.000 – 14.000: là đất tạo thuận lợi cho các cảm xúc, sức khỏe, hưng vượng, có nhiều thăng hoa trong sáng tác nghệ thuật và các lĩnh vực khoa học, hạnh phúc và tài lộc,.
– Đất có năng lượng từ 14.000 – 18.000: người sống trên đất đó phát triển trí tuệ cực kỳ cao, hưng vượng, tài lộc nhiều đời. Sống trên mảnh đất này không bị bệnh tật và có tuổi thọ cao hơn những nơi năng lượng của Đất thấp kém hơn. Lăng tẩm, đền đài, cung điện của các vị vương giả thường có chỉ số đo năng lượng 17.000- 18.000 Bovis (Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có chỉ số N.L sinh học là :18.000 Bovis).
– Năng lượng Bovis của đất từ: 18.000 – 20.000, người sống trên đất đó có “Tinh, Khí, Thần” cao hơn so với những người khác, luôn tươi cười và có tâm hồn rộng mở, hướng thiện. Cuộc sống xung túc, gia tộc thành đạt.
Với những mảnh đất có chỉ số Bovis từ 20.000 trở lên sẽ có tác dụng và công năng trợ giúp con người tu tập, hoàn thiện “Thân, Khẩu, Ý”, tinh lực dồi dào, trí tuệ phát triển (chỉ số năng lượng sinh học của đất được quy ước từ 0 – 20.000 đơn vị Bovis. Trong những trường hợp đặc biệt ở những khu đất linh thiêng thì chỉ số này sẽ là vô cực).
b/ Chỉ số đo năng lượng sinh học của người:
Để đo năng lượng sinh học của người và động vật, các chuyên gia cảm xạ học thế giới đã quy ước từ 0 – 400.000 đơn vị Bovis. Trong trường hợp những người luyện tập thường xuyên có công năng ổn định thì chỉ số này có thể lên tới 1.000.000 đơn vị và có thể còn cao hơn nữa. Qua khảo sát trong nhiều thập kỷ cho thấy: người có sức khỏe bình thường sẽ có chỉ số năng lượng sinh học 19.000 Bovis. Nếu thấp hơn con số này, người đó sẽ bị bệnh, cụ thể như sau:
– Người có chỉ số năng lượng sinh học từ 10.000 – 50.000 đơn vị Bovis: mắc bệnh ung thư, những căn bệnh hiểm nghèo.
– Người có chỉ số năng lượng sinh học từ 50.000 – 100.000 đơn vị Bovis: mắc bệnh tiền ung thư. Lục phủ, ngũ tạng và khí huyết không thông, thường mắc các chứng bệnh như: suy thận, viêm phổi cấp, viêm đa khớp, đau nửa đầu hoặc cả đầu kinh niên…..
– Người có chỉ số năng lượng sinh học từ 100.000 – 150.000 đơn vị Bovis: Hay ngủ mơ thấy ác mộng, tiểu đêm nhiều lần. Hay mỏi mệt, vẹo cổ và lạnh chân tay khi tỉnh giấc. Nếu phải làm việc liên tục vài giờ đồng hồ sẽ bị đau nhức và mỏi mệt.
– Người có chỉ số năng lượng sinh học từ 150.000 – 189.000 đơn vị Bovis: sức khỏe chưa được tốt, hay bị cảm nóng hoặc cảm lạnh. Thường mắc bệnh dị ứng phấn hoa, thời tiết và hóa chất. Thường xuyên bị sổ mũi, hắt hơi…..
– Người có chỉ số năng lượng sinh học từ 190.000 – 250.000 đơn vị Bovis: Có sức khỏe khá tốt, có thể tự khai mở 7 đại huyệt (7 luân xa).
– Người có chỉ số năng lượng sinh học từ 250.000 – 350.000 đơn vị Bovis: Sức khỏe tốt, năng lượng trong cơ thể ổn định. Có thể thu nạp, trao đổi N.L với thiên nhiên. Có thể chữa bệnh cho người khác bằng năng lượng sinh học của mình qua đôi bàn tay.
– Người có chỉ số năng lượng sinh học từ 350.000 – 400.000 đơn vị Bovis: Sức khỏe cực tốt, ngoài những khả năng trên người có chỉ số năng lượng sinh học này thể tu tập và khai mở tri giác.
* Với những người tu tập đúng cách theo chỉ dẫn của các bậc Thượng sư sẽ tích tụ được N.L vượt qua chỉ số 400.000 Bovis, có thể đạt tới 1 triệu Bovis. Năng lượng của các vị minh sư tu luyện theo Pháp của Chư Phật có thể đạt tới N.L sinh học tới vô cực.
* Đây là những chỉ số cơ bản được áp dụng vào thế kỷ thứ 19 đến thế kỷ 20. Sang thế kỷ 21 một số nước như: Balan. Đức, Pháp…có sự thay đổi áp dụng biểu đồ đo chỉ số năng lượng sinh học của người từ 0 – 100.000 Bovis. Với những người có những khả năng và công năng đặc biệt sẽ áp dụng chỉ số đo từ: 0 – 1.000.000.000 Bovis. Nhưng do sự quy ước phân chia trên biểu đồ mới tương tự như biểu đồ cũ chỉ thay đổi con số nên biểu đồ Bovis cũ vẫn được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Biểu đồ dành riêng cho những người có công năng đặc biệt, tu luyện công phu sẽ được áp dụng đo từ: 0 – 1.000.000.000 Bovis.

II. Lợi ích của cảm xạ học:
“Cảm xạ học” là một nghành khoa học biện chứng cao quý của nhân loại. Những người có tri thức trên thế giới rất tôn trọng và luôn ngưỡng mộ các chuyên gia cảm xạ học như những bậc Thầy tâm linh. Đơn cử một thí dụ như sau:khi muốn mua một khu đất hay ngôi nhà nào đó gia chủ sẽ mời các chuyên gia cảm xạ học tới “thăm và khám bệnh cho đất” bằng trực giác và thông qua các dụng cụ chuyên ngành cảm xạ học. Người luyện tập bộ môn cảm xạ học đương nhiên sẽ được khai mở những khả năng tiềm ẩn đang “ngủ yên” trong não bộ. Để giúp ích cho đời hiệu quả nhất đòi hỏi nhà cảm xạ học phải luôn luôn bình tĩnh, vô tư trong phán quyết, không tự kiêu, tự đại, không cố chấp. Trong suốt thời gian thực hành, dò tìm các “Ác xạ” đòi hỏi nhà cảm xạ học phải tập trung tâm tưởng cao độ để cảm nhận các “tia xạ”. Chính vì thế, người tu luyện bộ môn này đương nhiên sẽ có khả năng tập trung rất cao trong làm việc và học tập. Với những bài luyện tập “Cân bằng năng lượng âm dương trong cơ thể” và “lắng nghe mọi rung động trong cơ thể” do Viện R.I.A.F.R hướng dẫn sẽ trợ giúp cho người học cảm xạ khai thông các đường kinh lạc và kinh mạch trong cơ thể.

Các cụ ta xưa có câu: “Thống bất thông, Thông bất thống”. Tất cả các bệnh tật đều được sinh ra từ mọi sự bế tắc. Nhà “cảm xạ học” nhận biết hướng đi của dòng khí điện từ trường để sắp đặt đồ đạc hợp với trật tự của phong thủy. Trong phong thủy học không biết đến “ác xạ” gây bệnh, “ác xạ” hao tổn hạnh phúc và tài lộc nhưng ngành cảm xạ học sẽ tìm ra được những nguyên nhân sâu xa đó.

Tính cách tự cao, tự đại, vùi dập người khác để đánh bóng tên tuổi của mình không bao giờ được xuất hiện trong tâm tưởng của nhà cảm xạ học !. Khi tu luyện lên cao, nhà cảm xạ học sẽ nhìn thấy cái “bé nhỏ” trong ta. Bởi vậy, muốn luyện tập để trở thành nhà cảm xạ học, học viên mới tập cảm xạ cần thường xuyên luyện các bài tập để khai mở nhanh các đại huyệt (luân xa), từ đó sẽ khai mở tri giác và trí huệ của mình.

Ngành Y học thế giới đã tổng kết: trọng lượng não bộ của con người được tính bình quân là 3 kg, nhưng hiện nay mới chỉ sử dụng có 3 lạng, vậy nên 2kg7 còn lại sẽ dần “yên nghỉ” và căn bệnh nhũn não ngày càng gia tăng, thường xảy ra ở những người giầu có. Tại sao vậy ?, bởi họ chỉ biết hưởng thụ, không chịu luyện tập thể thao và luyện tập não thường xuyên.

Chuyên gia cảm xạ học cần phải luyện tập hằng ngày với các dụng cụ cảm xạ để tăng cường độ nhậy cảm và phát triển tâm linh trong não bộ.Hằng ngày, hằng giờ nhà cảm xạ phải là bác sỹ của chính mình. Cần tích lũy và tái tạo năng lượng sinh học bản thể bị mất đi trong quá trình thực hành cảm xạ. Trong đầu nhà cảm xạ luôn túc trực những câu hỏi sau: tại sao bị bệnh ? tại sao lại thất bại trong thương trường ? tại sao con cái lại không ngồi học được ở chỗ đó ? tại sao bị mất ngủ ? v.v.v… và phải trả lời bằng khoa học biện chứng – tránh xa u mê, mê tín dị đoan.

III. Những lỗi lầm thường bị mắc phải trong tu tập cảm xạ ở những người có tính nôn nóng và tự kiêu:

– Luôn cho mình là đúng.

– Độ nhậy cảm không liên tục và thiếu sự phát triển.

– Quan trọng hóa mình và các vấn đề tự cho là mình nhìn thấy được.

– Thường mơ màng và không bình thường trong hành động và lời nói.

– Tự tách rời mình ra khỏi gia đình và xã hội.

IV. Thành công nhờ đạo đức, phong cách sống vô tư và luyện tập chuyên cần

Cảm xạ học là bộ môn khoa học biện chứng, luôn hướng thiện và đưa người luyện tập cảm xạ tới những giá trị đích thực “Chân-Thiện-Mỹ”. Cảm xạ học không hời hợt và hào nhoáng trong cuộc sống!. Nhà cảm xạ học sống một cuộc sống luôn bình dị, khoan thai và tự tại. Các cụ ta thường có câu ”Thiên cơ bất khả lộ” kín đáo và trung thực sẽ dẫn tới thành công trong luyện tập cảm xạ.

Theo nguyenngocson.vn